TẠI SAO MỘT SỐ CHA MẸ KHÔNG CHO CON TIÊM VẮC-XIN

Từng có một làn sóng phản ứng dữ đội đối với những bố mẹ không đồng ý cho con được tiêm vắc-xin. Nhưng những chỉ trích này lỡ mất một điểm, họ đang xa lánh những bậc cha mẹ thực chất cũng chỉ là muốn con mình được an toàn.



Khi dịch bệnh sởi bùng phát ở Disneyland California vào năm 2015, khiến gần 150 người mắc bệnh trên khắp 7 bang và lan tới Mexico và Canada, cư dân mạng cho rằng những bậc phụ huynh không cho phép con mình được tiêm vắc xin là không thể tha thứ được.

Họ cho rằng những bậc cha mẹ đó đang bỏ mặc con cái mình, một vài người thậm chí còn muốn kiện họ. Ở đâu đó, họ bị coi là “ích kỷ” và ”ngu dốt”. Tara Haelle lại cho rằng những phản ứng này không những sai lầm mà có thể hủy hoại cuộc sống của người khác.


Haelle [TEDx Talk: Tại sao các bậc cha mẹ sợ vắc-xin] hiểu được cảm giác sợ hãi như thế nào khi đưa con đi tiêm vắc xin. Khi đứa con trai đầu tiên của mình ra đời, cô ấy cũng đã từ chối tiêm vắc xin cho con. Không chắc chắn về những rủi ro có thể xảy ra đối với con và cảm thấy rằng mình chưa nghiên cứu đủ về vấn đề này, cô đã từ chối tiêm vắc xin Viêm gan B dù hai tháng sau đó, đã buộc lòng đồng ý cho con tiêm chủng. “Tôi không phải kẻ ngốc khù khờ gì – Tôi thậm chí đã tốt nghiệp đại học. Nhưng tôi sợ, cũng như hàng trăm ông bố bà mẹ khác mà tôi đã nói chuyện trong sáu năm qua. Tôi đang thực hiện báo cáo về vấn đề này.”


Giờ đã là nhà báo về khoa học và sức khỏe và là đồng tác giả của quyển sách The Informed Parent: A Science-Based Resource to Your Child’s First Four Years ( cùng với Giáo sư Emily Willingham), Haelle cho rằng điều quan trọng là chúng ta cần thay đổi cách ta giao tiếp về việc do dự tiêm chủng và có những phản ứng đồng cảm hơn đối với những bậc cha mẹ “vô cùng sợ hãi rằng mình đang gây ra sai lầm – làm hại con mình trong khi tất cả những gì họ muốn là bảo vệ chúng.”


Những lời lẽ chua cay, tố cáo sẽ phản tác dụng, càng tạo nên sự khác biệt giữa người lựa chọn việc tiêm chủng một cách tự tin và người lựa chọn với đầy nỗi băn khoăn. Haelle khẳng định “Nếu ta định giải quyết vấn đề do dự tiêm chủng, ta phải giải quyết quá trình nền tảng khiến người ta tin tưởng vào nỗi sợ hãi thiếu cơ sở khoa học đó.”


Vấn đề với thành công

Vắc xin vốn đã được coi là một chuẩn đích. Chỉ số trung vị tiêm vắc xin measles-mumps-rubella (MMR) toàn quốc đạt mức khoảng 94% ở trẻ mầm non và hầu hết cha mẹ không ngần ngại tiêm chủng cho con. Vào năm 2014, trên toàn quốc, khoảng 2% trẻ em đi học trường mầm non miễn tiêm chủng. Nhưng dịch bộc phát ở Disneyland nêu bật lên một hiện trạng nguy cấp xảy ra trên khắp cả nước Mỹ: một bộ phận bố mẹ lựa chọn không tiêm chủng cho con, tỉ lệ tiêm chủng giảm tới mức đáng lo ngại.


“Chúng ta giờ thấy bản thân mình sống trong một thế kỉ mà chúng ta có để đánh bại hơn 24 loại bệnh tật đã từng tàn sát triệu người, và một trong mối đe dọa lớn nhất đối với y tế cộng đồng không phải là những căn bệnh, mà đó là việc do dự tiêm chủng – nỗi sợ ngăn cản cha mẹ tiêm chủng cho con” – Haelle chia sẻ.


Dù nhỏ, song những bộ phận này tạo ra những điểm yếu cho chiếc “áo giáp” vốn quyền năng và có quy mô quốc gia giúp ngăn chặn những căn bệnh có thể phòng tránh dược.

Theo giải thích của Haelle, “Vắc xin hoạt động theo hai cách. Cách thứ nhất là trong cơ thể con người, cách thứ hai là ở bên ngoài. Trong cơ thể một cá nhân, cơ thể tạo ra những kháng thể phản ứng lại với vắc xin đang chống lại cơn bệnh. Sau đó, đội quân thường trực của kháng thể sẽ chờ. Nếu mầm bệnh mà chúng được luyện để đánh bại xuất hiện, chúng sẽ tấn công mầm bệnh đó trước khi có bất kỳ lây nhiễm gì diễn ra. Nhưng cơ chế ‘bên ngoài’ cũng không kém phần quan trọng – Tiêm vắc xin trở nên phổ biến rộng rãi, giảm thiểu khả năng lan truyền bệnh tật. Với ít người nhiễm bệnh ở xung quanh hơn, sẽ ít người nhiễm bệnh truyền bệnh đi hơn.”


Đây được gọi là “miễn dịch bầy đàn”, nó không chỉ bảo vệ một cá nhân mà nó còn bảo vệ cả cộng đồng, đặc biệt là những thành phần dễ bị tổn thương, không thể miễn dịch vì họ quá trẻ hoặc quá yếu hoặc có hệ miễn dịch bị suy nhược. Đối với sởi, miễn dịch bầy đàn phải ít nhất là 90 đến 95% mặc dù vẫn có những tranh cãi yêu cầu một mục tiêu cao hơn thế.


Nó liên quan đến một yếu tố mà nhà dịch tễ học gọi là “chỉ số sản sinh cơ bản” (R0) – chỉ số lượng người sẽ mắc bệnh từ một người nhiễm bệnh nếu tất cả mọi người đều nhạy cảm và không ai được phòng bệnh. Nếu R0 thấp hơn 1, sẽ không có nhiễm trùng. Nhưng nếu R0 càng cao, thì bệnh lan truyền càng nhanh. Ví dụ, sởi rất dễ lây lan. Chỉ số sản sinh cơ bản của nó nằm trong khoảng từ 12 đến 18, điều này có nghĩa là bất kỳ ai mắc bệnh sởi có thể lây nhiễm khoảng 12 đến 18 người khác. So với cơn bùng nổ dịch Ebola thảm khốc ở phía Tây Châu Phi, có chỉ số sản sinh cơ bản xấp xỉ ở mức 1.71 và 2.02. Đối với nguy cơ mắc bệnh, cần cân nhắc một vài yếu tố khác, như đường truyền bệnh, khoảng thời gian nhiễm bệnh. Virut sởi lan truyền qua không khí từ việc ho và hắt xì hơi và nó có thể sống sót trong không khí trong vòng hai tiếng.


Một người bị nhiễm bệnh có thể lan truyền virut đó trong vòng 4 ngày trước và sau khi xuất hiện chứng phát ban. Căn bệnh càng truyền nhiễm, tỉ lệ tiêm chủng càng phải cao để có thể bảo vệ cộng đồng.


Một trong mối đe dọa lớn nhất đối với ý tế cộng đồng không phải là những căn bệnh, mà đó là việc do dự tiêm chủng – nỗi sợ ngăn cản cha mẹ tiêm chủng cho con.


Vì vậy, mặc dù tỉ lệ miễn dịch của Mỹ lên tới 94%, nhưng những bộ phận này có tỉ lệ miễn dịch bầy đàn rơi vào dưới 90% - ở Colorado, tỉ lệ trung bình là 86.9% - điều này có thể dẫn đến nguy cơ bùng nổ dịch bệnh. Ví dụ, ở Syria, nơi có tỉ lệ tiêm chủng giảm xuống còn 45% từ xung đột trước đó khoảng 95% và sự nổi dậy của bệnh bại liệt ở 35 trẻ vào năm 2013. Theo sau đó là sởi và ho gà vào năm 2014.


Xa mặt cách lòng.

Bởi những thành công của vắc xin giúp giảm thiểu bệnh tật, chúng ta hiếm khi phải đối mặt với những ảnh hưởng tàn phá của nó. Trước khi vắc xin sởi ở Mỹ được cấp phép vào năm 1963, 3 đến 4 triệu người nhiễm bệnh mỗi năm và 400 – 500 người trong số tử vong. Năm nay, có 19 trường hợp ở Mỹ. Haelle tiếp tục chia sẻ: Còn rất ít người sợ bệnh đậu mùa hay bại liệt và bằng một cách nào đó, nỗi sợ tiêm chủng đã thay thế nỗi sợ bệnh tật. “Thông tin hầu hết mà ta tiếp cận được đều nằm trong tâm trí ta và ta tiếp cận nhiều thông tin hơn so với trước đây. Ta có xu hướng nghe nhìn nhiều thông tin hơn về những tổn thương gây ra bởi vaccine (dù thông tin chưa được xác nhận) hơn là về những ảnh hưởng của căn bệnh mà ta đang xóa bỏ. Điều này có tác động đến cách ta nghĩ về những rủi ro, tạo nên một quá trình được gọi là Định kiến về sự có sẵn – một xu hướng tự nhiên ấn định vào đầu bất kỳ thứ gì rõ ràng hơn là những thứ hợp lý.


Có rất nhiều cơ hội gieo vào đầu người khác sự nghi ngờ - theo tiến sĩ Sharon Kaufman, trưởng khoa Nhân học, Lịch sử và Y học xã hội ở đại học California, San Francisco. Những trang web, nhóm thảo luận, hình thức miễn trừ niềm tin cá nhân của bang, những vụ kiện thay mặt tập thể và những cuốn sách như Những điều bác sĩ không nói với bạn về tiêm chủng của trẻ em đều dấy lên mối nghi ngờ với các chuyên gia và bằng chứng khoa học.


Nhưng sự thật trần trụi này khá rõ ràng. Hàng biển nghiên cứu đã chỉ ra rằng rủi ro phản hứng nghiêm trọng với vắc xin rất hiếm – 1 trong 1 triệu liều, theo CDC. Những cơn co giật sau khi tiêm chủng, mặc dù có thể hơi đáng sợ đối với bậc cha mẹ, nhưng cũng rất hiếm – từ kết luận của một nghiên cứu mới.


Trong khi đó, nguy cơ một đứa trẻ bệnh sởi mắc bệnh viêm phổi là 1 trên 20. Cứ khoảng 1 trong 1000 trẻ em mắc bệnh sởi sẽ mắc bệnh viêm não, não sưng lên gây ra dị tật não và khiếm thính, và trong khoảng 1 hoặc 2 trong 1000 trẻ em thậm chí có thể tử vong do sởi.


Nghiên cứu vẫn còn ảnh hưởng đến nay. Đó không chỉ là phản ứng dị ứng khiến cha mẹ sợ hãi. Vào năm 1998, một nghiên cứu mà bây giờ đã bị bác bỏ của Andrew Wakefield và đồng nghiệp của mình chỉ ra rằng có mối liên kết giữa tiêm chủng MMR và tự kỷ, gây hoảng loạn đối với bố mẹ trên toàn thế giới. Nghiên cứu này đã bị rút lại và giấy phép y học của Wakefield cũng bị thu hồi, song nghiên cứu này vẫn còn gây ra những thiệt hại lâu dài cho đến bây giờ. Ở Mỹ, nghiên cứu này để lại một cảm giác bất định kéo dài đối với những bậc cha mẹ sơ tiêm chủng ngay cả nếu họ không rõ tại sao mình lại như vậy – theo nhận định của giáo sư Elizabeth Rosenblum, y sĩ dược gia đình ở UC San Diego.

Qua những bệnh nhân của mình, Rosenblum có tiếp xúc với những bậc cha mẹ hoặc là từ chối tiêm chủng, hoặc là muốn tiêm chủng cho con theo lịch của mình. Một vài cha mẹ sợ rằng nếu tiêm chủng nhiều lần cho con sẽ làm rối loạn hệ miễn dịch của con dù tất cả bằng chứng chứng minh rằng điều này sai sự thật.


Những đứa trẻ sơ sinh phải chống chọi với hàng triệu vi khuẩn trước ngay cả khi chúng rời khỏi bệnh viện – Rosenblum đã nói với những người mới làm cha mẹ như vậy, và số lượng đó còn nhiều hơn rất nhiều so với những thành phần miễn dịch trong 3 hoặc 4 loại tiêm chủng. Cô ấy so sánh việc hoãn lịch tiêm chủng giống như việc quyết định lái xe để con trong lòng, đợi đến điểm tiếp theo để đặt chúng lên ghế xe hơi. “Khoảng thời gian đó, đứa trẻ đó sẽ không được bảo vệ.”


Không hành động, họ cảm thấy an toàn hơn là hành động. Haelle cho rằng mọi người có xu hướng trốn tránh hành động vì nghĩ sẽ có ít nguy cơ gây hại, song lựa chọn không hành động lại mang theo rủi ro cao hơn.


Trong trường hợp này, bố mẹ đang lựa chọn giữa nhận thức về nguy hiểm tức thì – mối đe dọa hiển nhiên khi mũi kim tiêm đưa vào tay hoặc chân của con trẻ và rủi ro nhỏ xíu mà con của mình sẽ trải qua khi phản ứng với vắc xin – và trong tương lai đứa trẻ đó sẽ nhiễm bệnh mà đôi khi còn là căn bệnh hiếm và lạ.


Bằng chứng và giáo dục không có tác dụng. Những thành kiến và niềm tin quá vững chắc, vững chắc hơn cả lý trí, vì vậy mà “Cung cấp cho họ thông tin sự thật không nhất thiết là sẽ thay đổi được tâm trí họ.” Trên thực tế, một nghiên cứu gần đây của Brendan Nyhan, nhà khoa học chính trị của Dartmouth College chuyên về chính trị và sức khỏe, chỉ ra rằng đối với mối quan tâm của một vị phu huynh, đưa ra thông tin và hình ảnh về những nguy hiểm mà những căn bệnh có thể phòng ngừa được gây ra và những điểm an toàn của vắc xin MMR không làm cho họ có ý định tiêm chủng cho con mình.


Một vài bang, tuyên bố cho phép những đứa trẻ không được tiêm chủng đi học dựa trên việc miễn trừ niềm tin cá nhân, thì đang cố gắng gây khó dễ với sự miễn trừ này và một vài trường hợp còn tận dụng cơ hội để giáo dục các bậc cha mẹ. Một nghiên cứu gần đây của Nyhan chỉ ra rằng hướng tiếp cận này có thể nhận lấy những phản ứng ngược. Để các bậc cha mẹ nhận lời khuyên từ bác sĩ – những người mà họ cho rằng là nguồn tin đáng tin cậy nhất về vắc xin, sẽ là một hướng tiếp cận tiềm năng hơn.


Giải pháp:

Ít chỉ trích hơn và đồng cảm nhiều hơn. Vậy giải pháp ở đây là gì? “Hơn bất kỳ điều gì, đối mặt với sự do dự tiêm chủng đòi hỏi sự kết nối. Một người, khi cảm thấy thông tin này họ đã nghe rồi, sẽ cảm thấy thoải mái hơn, hạ bỏ bức tường cảnh giác xuống. Thành kiến trong nhận thức sẽ tạm thời được ngắt khi mối đe dọa bị chỉ trích biến mất.” Đối với Haelle, mọi người đều có một vai trò, từ cá nhân các bậc phụ huynh trấn an những bố mẹ đang do dự tiêm vắc xin cho con, đến công ty bảo hiểm tăng mức chi trả cho những lần khám sức khỏe định kỳ để bố mẹ có thể thảo luận với bác sĩ của họ về những mối quan tâm của mình. Truyền thông cũng có thể giúp bằng cách khắc họa những gì về vắc xin một cách chính xác hơn – những hình ảnh em bé khóc thét không có tác dụng và nó thậm chí còn không đúng (hầu hết các em bé sơ sinh thực chất không hét khi chúng được tiêm).


Chúng ta sẽ không bao giờ tiếp cận được 100% người nhưng điều đó không sao cả. Cho đến khi ta vẫn gia tăng hệ miễn dịch cộng đồng với truyền thông thấu đáo và sự đồng cảm, ít nhất ta có thể tiến gần hơn tới mục tiêu đó.


Phương Ngô (Dịch từ ted.com)

Ảnh: Emily Pidgeon/TED

Vui lòng ghi rõ nguồn raisedhappy.co khi sao chép hoặc đăng tải lại bài viết này.

FIND YOUR WAY

01. VỀ LINH PHAN

02. SHOP

03. BLOG

04. PUBLICATIONS